in Tiếng Nhật tổng hợp

Tiếng Nhật – động từ ở cuối câu

Bạn đang đọc bài viết thuộc chuyên đề Thì ra là thế
Đây là bài viết đầu tiên trong chuỗi bài “Thì ra là thế!” giúp bạn dù chưa học hay đã học tiếng Nhật có cái nhìn một cái hiểu biết rõ hơn về những đặc tính cơ bản và thông thường mà người học ít được giải thích.

Thứ tự sắp xếp thông thường và căn bản trong tiếng Anh (ngay cả trong tiếng Việt) là S (Subject – Chủ ngữ) – V (verb – động từ) – O (object – tân ngữ). Thế nhưng trong tiếng Nhật, thứ tự này lại khác đi. Ví dụ:

 S  O  V
 今日は

Hôm nay

 さちこが

Sachiko

Chủ ngữ

 この話を

câu chuyện này

Tân ngữ

 読みます

đọc

Động từ

Chính vì tư duy “ngược ngạo” này mà gây khó khăn cho những bạn mới bắt đầu học. Tuy nhiên một thời gian sẽ quen thôi. Không chỉ riêng tiếng Nhật, mà tiếng Hàn chẳng hạn cũng theo trật tự động từ đặt cuối như vậy.

Bạn có thể thay đổi chỗ nhiều thành phần tân ngữ trong câu, thậm chí thay đổi luôn cả vị trí của tân ngữ và chủ ngữ, nhưng nhất thiết động từ phải đặt ở cuối, ví dụ, trong câu trên, bạn có thể nói thành.

 O  S  V
 今日は

Hôm nay

 この話を

câu chuyện này

Tân ngữ

 さちこが

Sachiko

Chủ ngữ

 読みます

đọc

Động từ

Có một từ ngôn ngữ học gọi tính chất của tiếng Nhật là “right-headedness” (tính đầu – phải), vì nếu viết tiếng Nhật từ trái qua phải, thì thành phần quan trọng nhất trong câu là động từ phải đặt ở cuối. (bạn có thể xem thêm một bài viết khác trên nihonblog cũng nói đến vấn đề này tại đây).

Không dừng lại tại đó, động từ chi phối rất nhiều ý nghĩa khác, như là về thì, bị động, kính ngữ, sai khiến, cho phép,… động từ trở thành linh hồn của câu.

Trong giao tiếp, bạn có thể lượt bỏ các thành tố khác trong câu mà người nghe vẫn hiểu rõ ý bạn nói, nhưng không nói được động từ bạn sẽ không thể diễn đạt được ý mình muốn.

Bạn đang đọc bài viết thuộc chuyên đề Thì ra là thế

Viết bình luận

Comment

  1. ad ơi cho e hỏi e mới học tiếng nhật. e đang học giáo trình minna nihongo. e mới học đến bài 12. giờ e muốn làm thêm bài tập, ad có tài liệu nào k ạ?